Dataset Viewer
Auto-converted to Parquet Duplicate
version
stringclasses
1 value
data
dict
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Từ ngày 18/7/2022, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an đã hoàn thành ứng dụng định danh điện tử (VNeID) để cung cấp tiện ích cho công dân, đồng thời đưa hệ thống định danh và xác thực điện tử vào sử dụng. Đến nay, đã thu nhận gần 6 triệu hồ sơ đăng ký tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) để phê duyệt, cung cấp cho người dân. Theo đó, Bộ Công an xin trả lời như sau: - Tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) không tự động sinh ra mà sẽ được cấp khi công dân có yêu cầu. Theo nhu cầu sử dụng của công dân, TKĐDĐT có 2 mức, trong đó, mức 1 dành cho công dân đăng ký online trên ứng dụng VNeID. Mức 2 khi công dân đăng ký trực tiếp tại cơ quan Công an hoặc đăng ký khi đi làm Căn cước công dân gắn chíp. TKĐDĐT có thể được hiểu là \"ví giấy tờ điện tử\", là phương thức quản lý thông tin thẻ Căn cước của công dân hay toàn bộ giấy tờ tùy thân trên môi trường mạng. TKĐDĐT bao gồm thông tin về các loại giấy tờ của công dân. Mục đích để làm tài khoản đăng nhập thực hiện các dịch vụ công mà không cần phải xác minh lại thông tin cá nhân của người đó. Đồng thời, có thể sử dụng TKĐDĐT để thay thế một số giấy tờ, giấy phép như: Thẻ Căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký xe, giấy phép lái xe... Một số thông tin trên tài khoản định đanh điện tử có thể được sử dụng, cụ thể: + Thông tin Căn cước công dân: Thay thế thẻ Căn cước gắn chíp, có thể phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi thực hiện nhiều thủ tục hành chính mà không cần xuất trình Căn cước công dân. + Thông tin thẻ bảo hiểm y tế: Thay thế thẻ bảo hiểm y tế vật lý. Thông tin hiển thị bảo hiểm y tế trên VNeID được xác thực và truy xuất từ Cơ sở dữ liệu Bảo hiểm y tế Việt Nam. Vì vậy, thông tin về bảo hiểm y tế trên ứng dụng VNeID sẽ phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm mà không cần trình thẻ bảo hiểm y tế vật lý. + Thông tin đăng ký xe, giấy phép lái xe: Các thông tin hiển thị các hạng giấy phép lái xe, đăng ký xe trên VNeID được liên thông, xác thực với Cơ sở dữ liệu về giao thông vận tải. Do đó, người dân và cơ quan chức năng có thể sử dụng khi thực hiện các thủ tục liên quan đến công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ. + Thông tin người phụ thuộc, người giám hộ; thực hiện thông báo lưu trú mọi lúc, mọi nơi, không cần phải liên hệ qua cơ quan Công an. + Chức năng tố giác tội phạm: VNeID cung cấp thêm một kênh chính thống để người dân tố giác tội phạm với cơ quan Công an một cách bảo mật, an toàn mà không lộ lọt thông tin. Những ai được đăng ký tài khoản định danh điện tử? Mọi cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên được đăng ký TKĐDĐT thông qua ứng dụng VNeiD. Người chưa đủ 14 tuổi thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Đối với người được giám hộ khác thì cần đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của người giám hộ. Những thông tin cần khai báo khi đăng ký gồm: Số định danh cá nhân, số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (đối với người nước ngoài); họ tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch (đối với người nước ngoài); số điện thoại, email. Mọi người dân được miễn phí chi phí thực hiện đăng ký định danh điện tử. Tài khoản định danh sẽ có cùng thời hạn với thời hạn của Căn cước công dân gắn chíp. Có bắt buộc phải đăng ký tài khoản định danh điện tử? Bộ Công an khuyến khích công dân đăng ký sử dụng TKĐDĐT để được hưởng nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian, chi phí vì không phải kê khai nhiều loại biểu mẫu, giảm các thủ tục trong giao dịch hành chính công. Với tài khoản mức độ 1, người dân được sử dụng một số tính năng cơ bản gồm: Phòng chống dịch (khai báo y tế, thông tin tiêm chủng), giải quyết dịch vụ công trực tuyến (thông báo lưu trú, đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng). Với tài khoản mức độ 2, công dân có thể sử dụng tất cả tiện ích mà ứng dụng VNeID cung cấp gồm: Tích hợp các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế), thanh toán nhiều loại hóa đơn điện tử (điện, nước, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chuyển tiền). Người dân đăng ký tài khoản định danh điện tử mức 1 trên ứng dụng VNeID. Với mức 2, công dân đến cơ quan Công an địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) để đăng ký. Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử Các dữ liệu về định danh điện tử không lưu trữ trên thiết bị di động đã cài đặt ứng dụng VNeID nên phần mềm hacker khó truy cập vào thiết bị để đánh cắp thông tin. Chỉ khi công dân đăng ký truy cập mới được hiển thị lên ứng dụng. Khi cán bộ chức năng yêu cầu kiểm tra thông tin cá nhân, giấy tờ của công dân thì công dân phải cho phép (cấp quyền kiểm tra) thì cán bộ mới có thể xem được thông tin. Bên thứ 3 (ngân hàng, ví điện tử, y tế, bảo hiểm, hệ thống dịch vụ công) muốn sử dụng dữ liệu của công dân sẽ phải được sự đồng ý của chủ tài khoản. Ngoài ra, thông tin công dân sẽ được ký số (chống thay đổi, chống chối bỏ) và được mã hóa. Hệ thống của các bên thứ 3 khi kết nối với hệ thống định danh, xác thực điện tử đều phải được xác thực bảo mật. Dữ liệu mã hóa cộng với giải pháp bảo mật ở mức độ cao, nên có thể ngăn ngừa hacker xâm nhập để đánh cắp thông tin cá nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 394, "text": "- Tài khoản định danh điện tử (TKĐDĐT) không tự động sinh ra mà sẽ được cấp khi công dân có yêu cầu. Theo nhu cầu sử dụng của công dân, TKĐDĐT có 2 mức, trong đó, mức 1 dành cho công dân đăng ký online trên ứng dụng VNeID. Mức 2 khi công dân đăng ký trực tiếp tại cơ quan Công an hoặc đăng ký khi đi làm Căn cước công dân gắn chíp. TKĐDĐT có thể được hiểu là \"ví giấy tờ điện tử\", là phương thức quản lý thông tin thẻ Căn cước của công dân hay toàn bộ giấy tờ tùy thân trên môi trường mạng. TKĐDĐT bao gồm thông tin về các loại giấy tờ của công dân. Mục đích để làm tài khoản đăng nhập thực hiện các dịch vụ công mà không cần phải xác minh lại thông tin cá nhân của người đó. Đồng thời, có thể sử dụng TKĐDĐT để thay thế một số giấy tờ, giấy phép như: Thẻ Căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, đăng ký xe, giấy phép lái xe... Một số thông tin trên tài khoản định đanh điện tử có thể được sử dụng, cụ thể: + Thông tin Căn cước công dân: Thay thế thẻ Căn cước gắn chíp, có thể phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi thực hiện nhiều thủ tục hành chính mà không cần xuất trình Căn cước công dân. + Thông tin thẻ bảo hiểm y tế: Thay thế thẻ bảo hiểm y tế vật lý. Thông tin hiển thị bảo hiểm y tế trên VNeID được xác thực và truy xuất từ Cơ sở dữ liệu Bảo hiểm y tế Việt Nam. Vì vậy, thông tin về bảo hiểm y tế trên ứng dụng VNeID sẽ phục vụ cơ quan chức năng, công dân sử dụng khi khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm mà không cần trình thẻ bảo hiểm y tế vật lý. + Thông tin đăng ký xe, giấy phép lái xe: Các thông tin hiển thị các hạng giấy phép lái xe, đăng ký xe trên VNeID được liên thông, xác thực với Cơ sở dữ liệu về giao thông vận tải. Do đó, người dân và cơ quan chức năng có thể sử dụng khi thực hiện các thủ tục liên quan đến công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về giao thông đường bộ. + Thông tin người phụ thuộc, người giám hộ; thực hiện thông báo lưu trú mọi lúc, mọi nơi, không cần phải liên hệ qua cơ quan Công an. + Chức năng tố giác tội phạm: VNeID cung cấp thêm một kênh chính thống để người dân tố giác tội phạm với cơ quan Công an một cách bảo mật, an toàn mà không lộ lọt thông tin. Những ai được đăng ký tài khoản định danh điện tử? Mọi cá nhân từ đủ 14 tuổi trở lên được đăng ký TKĐDĐT thông qua ứng dụng VNeiD. Người chưa đủ 14 tuổi thì đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Đối với người được giám hộ khác thì cần đăng ký theo tài khoản định danh điện tử của người giám hộ. Những thông tin cần khai báo khi đăng ký gồm: Số định danh cá nhân, số hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (đối với người nước ngoài); họ tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; quốc tịch (đối với người nước ngoài); số điện thoại, email. Mọi người dân được miễn phí chi phí thực hiện đăng ký định danh điện tử. Tài khoản định danh sẽ có cùng thời hạn với thời hạn của Căn cước công dân gắn chíp. Có bắt buộc phải đăng ký tài khoản định danh điện tử? Bộ Công an khuyến khích công dân đăng ký sử dụng TKĐDĐT để được hưởng nhiều lợi ích như tiết kiệm thời gian, chi phí vì không phải kê khai nhiều loại biểu mẫu, giảm các thủ tục trong giao dịch hành chính công. Với tài khoản mức độ 1, người dân được sử dụng một số tính năng cơ bản gồm: Phòng chống dịch (khai báo y tế, thông tin tiêm chủng), giải quyết dịch vụ công trực tuyến (thông báo lưu trú, đăng ký thường trú, tạm trú, khai báo tạm vắng). Với tài khoản mức độ 2, công dân có thể sử dụng tất cả tiện ích mà ứng dụng VNeID cung cấp gồm: Tích hợp các loại giấy tờ (giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm y tế), thanh toán nhiều loại hóa đơn điện tử (điện, nước, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chuyển tiền). Người dân đăng ký tài khoản định danh điện tử mức 1 trên ứng dụng VNeID. Với mức 2, công dân đến cơ quan Công an địa phương (cấp tỉnh, huyện, xã) để đăng ký. Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử Các dữ liệu về định danh điện tử không lưu trữ trên thiết bị di động đã cài đặt ứng dụng VNeID nên phần mềm hacker khó truy cập vào thiết bị để đánh cắp thông tin. Chỉ khi công dân đăng ký truy cập mới được hiển thị lên ứng dụng. Khi cán bộ chức năng yêu cầu kiểm tra thông tin cá nhân, giấy tờ của công dân thì công dân phải cho phép (cấp quyền kiểm tra) thì cán bộ mới có thể xem được thông tin. Bên thứ 3 (ngân hàng, ví điện tử, y tế, bảo hiểm, hệ thống dịch vụ công) muốn sử dụng dữ liệu của công dân sẽ phải được sự đồng ý của chủ tài khoản. Ngoài ra, thông tin công dân sẽ được ký số (chống thay đổi, chống chối bỏ) và được mã hóa. Hệ thống của các bên thứ 3 khi kết nối với hệ thống định danh, xác thực điện tử đều phải được xác thực bảo mật. Dữ liệu mã hóa cộng với giải pháp bảo mật ở mức độ cao, nên có thể ngăn ngừa hacker xâm nhập để đánh cắp thông tin cá nhân." } ], "id": "1", "is_impossible": false, "question": "Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử như thế nào?" } ] } ], "title": "Vấn đề bảo mật thông tin cá nhân trên tài khoản định danh điện tử như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Luật Căn cước được Quốc hội khoá XV thông qua tại Kỳ họp thứ 6, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024 có những điểm mới như sau: 01. Chính thức đổi tên Căn cước công dân thành Căn cước (Điều 3). 02. Giá trị sử dụng của Thẻ căn cước công dân, Chứng minh nhân dân đã được cấp (Điều 46): - Thẻ Căn cước công dân đã được cấp trước ngày 01/7/2024 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được ghi trong thẻ.Công dân khi có nhu cầu thì được cấp đổi sang thẻ căn cước. - Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. - Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng. 03. Chứng minh nhân dân hết hiệu lực từ 01/01/2025 (Điều 46): Chứng minh nhân dân còn thời hạn sử dụng thì được sử dụng đến ngày 31/12/2024. 04. Bỏ thông tin quê quán và vân tay trên thẻ căn cước (Điều 18): Thẻ Căn cước mới đã bỏ thông tin quê quán, nơi thường trú, vân tay, đặc điểm nhận dạng, thay vào bằng thông tin nơi đăng ký khai sinh và nơi cư trú. 05. Mở rộng đối tượng được cấp thẻ căn cước (Điều 18 và Điều 19): - Công dân Việt Nam dưới 14 tuổi cấp thẻ căn cước theo nhu cầu. - Công dân Việt Nam có nơi cú trú gồm nơi thường trú hoặc nơi tạm trú hoặc nơi ở hiện tại được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thẻ căn cước mới thay thông tin nơi thường trú bằng thông tin nơi cư trú). 06. Cấp thẻ Căn cước cho người dưới 06 tuổi (Điều 23): - Người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước cho người dưới 06 tuổi thông qua cổng dịch vụ công hoặc ứng dụng định danh quốc gia. - Không thu nhận thông tin nhân dạng và sinh trắc học đối với người dưới 06 tuổi. 07. Bổ sung quy định cấp Giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch (Điều 3 và Điều 30): - Giấy chứng nhận căn cước là giấy tờ tùy thân chứa đựng thông tin về căn cước của người gốc Việt Nam, chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. - Giấy chứng nhận căn cước có giá trị chứng minh về căn cước để thực hiện các giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. 08. Bổ sung quy định cấp Căn cước điện tử (Điều 31 và Điều 33): - Mỗi công dân Việt Nam được cấp 01 Căn cước điện tử. Căn cước điện tử của công dân được cơ quan quản lý căn cước Bộ Công an tạo lập ngay sau khi công dân hoàn thành thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 (VNeID). - Căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác theo nhu cầu của công dân. 09. Bổ sung quy định thu thập thông tin sinh trắc học (Điều 16 và Điều 23): - Thu nhận thông tin sinh trắc học mống mắt đối với công dân từ đủ 06 tuổi trở lên khi thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước. - Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp khi thực hiện thủ tục cấp căn cước. 10. Bổ sung quy định về việc tích hợp thông tin vào thẻ Căn cước (Điều 22): - Thông tin tích hợp vào thẻ căn cước gồm thông tin thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. - Người dân đề nghị tích hợp thông tin vào thẻ căn cước khi có nhu cầu hoặc khi thực hiện việc cấp thẻ căn cước. - Việc sử dụng thông tin được tích hợp vào thẻ căn cước có giá trị tương đương như việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng giấy tờ có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 121, "text": "01. Chính thức đổi tên Căn cước công dân thành Căn cước (Điều 3). 02. Giá trị sử dụng của Thẻ căn cước công dân, Chứng minh nhân dân đã được cấp (Điều 46): - Thẻ Căn cước công dân đã được cấp trước ngày 01/7/2024 vẫn có giá trị sử dụng đến hết thời hạn được ghi trong thẻ.Công dân khi có nhu cầu thì được cấp đổi sang thẻ căn cước. - Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân hết hạn sử dụng từ ngày 15/01/2024 đến trước ngày 30/6/2024 thì tiếp tục có giá trị sử dụng đến hết ngày 30/6/2024. - Các loại giấy tờ có giá trị pháp lý đã phát hành có sử dụng thông tin từ Chứng minh nhân dân, thẻ Căn cước công dân vẫn giữ nguyên giá trị sử dụng. 03. Chứng minh nhân dân hết hiệu lực từ 01/01/2025 (Điều 46): Chứng minh nhân dân còn thời hạn sử dụng thì được sử dụng đến ngày 31/12/2024. 04. Bỏ thông tin quê quán và vân tay trên thẻ căn cước (Điều 18): Thẻ Căn cước mới đã bỏ thông tin quê quán, nơi thường trú, vân tay, đặc điểm nhận dạng, thay vào bằng thông tin nơi đăng ký khai sinh và nơi cư trú. 05. Mở rộng đối tượng được cấp thẻ căn cước (Điều 18 và Điều 19): - Công dân Việt Nam dưới 14 tuổi cấp thẻ căn cước theo nhu cầu. - Công dân Việt Nam có nơi cú trú gồm nơi thường trú hoặc nơi tạm trú hoặc nơi ở hiện tại được thu thập, cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (thẻ căn cước mới thay thông tin nơi thường trú bằng thông tin nơi cư trú). 06. Cấp thẻ Căn cước cho người dưới 06 tuổi (Điều 23): - Người đại diện hợp pháp thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước cho người dưới 06 tuổi thông qua cổng dịch vụ công hoặc ứng dụng định danh quốc gia. - Không thu nhận thông tin nhân dạng và sinh trắc học đối với người dưới 06 tuổi. 07. Bổ sung quy định cấp Giấy chứng nhận căn cước cho người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch (Điều 3 và Điều 30): - Giấy chứng nhận căn cước là giấy tờ tùy thân chứa đựng thông tin về căn cước của người gốc Việt Nam, chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam từ 06 tháng trở lên. - Giấy chứng nhận căn cước có giá trị chứng minh về căn cước để thực hiện các giao dịch, thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. 08. Bổ sung quy định cấp Căn cước điện tử (Điều 31 và Điều 33): - Mỗi công dân Việt Nam được cấp 01 Căn cước điện tử. Căn cước điện tử của công dân được cơ quan quản lý căn cước Bộ Công an tạo lập ngay sau khi công dân hoàn thành thủ tục cấp tài khoản định danh điện tử mức độ 02 (VNeID). - Căn cước điện tử sử dụng để thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác theo nhu cầu của công dân. 09. Bổ sung quy định thu thập thông tin sinh trắc học (Điều 16 và Điều 23): - Thu nhận thông tin sinh trắc học mống mắt đối với công dân từ đủ 06 tuổi trở lên khi thực hiện thủ tục cấp thẻ căn cước. - Thông tin sinh trắc học về ADN và giọng nói được thu thập khi người dân tự nguyện cung cấp khi thực hiện thủ tục cấp căn cước. 10. Bổ sung quy định về việc tích hợp thông tin vào thẻ Căn cước (Điều 22): - Thông tin tích hợp vào thẻ căn cước gồm thông tin thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, giấy phép lái xe, giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn hoặc giấy tờ khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định. - Người dân đề nghị tích hợp thông tin vào thẻ căn cước khi có nhu cầu hoặc khi thực hiện việc cấp thẻ căn cước. - Việc sử dụng thông tin được tích hợp vào thẻ căn cước có giá trị tương đương như việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng giấy tờ có chứa thông tin đó trong thực hiện thủ tục hành chính, dịch vụ công, các giao dịch và hoạt động khác." } ], "id": "2", "is_impossible": false, "question": "Những điểm mới của Luật Căn cước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024?" } ] } ], "title": "Những điểm mới của Luật Căn cước có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Dự thảo Luật Căn cước công dân (CCCD) (sửa đổi) quy định thông tin trên thẻ CCCD sẽ được thay đổi, lược bỏ một số thông tin so với quy định hiện nay như thay đổi thông tin về nơi thường trú, quê quán thành nơi cư trú, nơi đăng ký khai sinh, thay đổi thông tin về họ tên, chức danh, chữ ký của người cấp thẻ thành nơi cấp: Bộ Công an. Bên cạnh đó, một số thông tin trên thẻ sẽ được lược bỏ như vân tay, đặc điểm nhân dạng của người cấp thẻ. Việc quy định như trên để bảo đảm thuận lợi, bảo đảm tính riêng tư cho công dân trong quá trình cấp, sử dụng thẻ CCCD.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 322, "text": "Bộ Công an. Bên cạnh đó, một số thông tin trên thẻ sẽ được lược bỏ như vân tay, đặc điểm nhân dạng của người cấp thẻ. Việc quy định như trên để bảo đảm thuận lợi, bảo đảm tính riêng tư cho công dân trong quá trình cấp, sử dụng thẻ CCCD." } ], "id": "3", "is_impossible": false, "question": "Mẫu thẻ Căn cước công dân theo dự thảo Luật Căn cước công dân (sửa đổi) có điểm gì mới so với mẫu cũ?" } ] } ], "title": "Mẫu thẻ Căn cước công dân theo dự thảo Luật Căn cước công dân (sửa đổi) có điểm gì mới so với mẫu cũ?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân được quy định tại Điều 4 của Luật Cư trú, như sau: 1. Công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây: a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng; d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này; đ) Các trường hợp khác theo quy định của luật. 3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 98, "text": "1. Công dân thực hiện quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. 2. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế trong các trường hợp sau đây: a) Người bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách; người đang chấp hành án phạt tù, cấm cư trú, quản chế hoặc cải tạo không giam giữ; người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách; b) Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành; người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng; c) Người bị cách ly do có nguy cơ lây lan dịch bệnh cho cộng đồng; d) Địa điểm, khu vực cách ly vì lý do phòng, chống dịch bệnh theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền; địa bàn có tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật; địa điểm không được đăng ký thường trú mới, đăng ký tạm trú mới, tách hộ theo quy định của Luật này; đ) Các trường hợp khác theo quy định của luật. 3. Việc thực hiện quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quy định của luật. Nội dung, thời gian hạn chế quyền tự do cư trú thực hiện theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền hoặc theo quy định của luật có liên quan." } ], "id": "4", "is_impossible": false, "question": "Những trường hợp nào thì Công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú?" } ] } ], "title": "Những trường hợp nào thì Công dân bị hạn chế quyền tự do cư trú?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 6 Nghị định 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài” như sau: 1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện hành vi mua bán người, phát hiện bản thân mình hoặc người khác có nguy cơ bị mua bán thì gọi đến số điện thoại của Tổng đài để báo tin, tố giác. 2. Người tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài thực hiện ghi chép nội dung thông tin tiếp nhận theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, trong trường hợp cần thiết và theo nhu cầu của người trình báo thực hiện tư vấn tâm lý, tư vấn chính sách, pháp luật, tư vấn hỗ trợ nạn nhân, cung cấp kỹ năng ứng phó với hành vi mua bán người. 3. Ngay sau khi kết thúc việc tiếp nhận tố giác, tin báo hành vi mua bán người, người tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi mua bán người hoặc nơi người báo tin cư trú để giải quyết theo quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 4. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tố giác, tin báo về hành vi mua bán người mà nạn nhân hoặc người nghi là nạn nhân là trẻ em thì việc xử lý theo quy định của pháp luật về trẻ em.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 6 Nghị định 162/2025/NĐ-CP ngày 29/6/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài” như sau: 1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khi phát hiện hành vi mua bán người, phát hiện bản thân mình hoặc người khác có nguy cơ bị mua bán thì gọi đến số điện thoại của Tổng đài để báo tin, tố giác. 2. Người tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người qua Tổng đài thực hiện ghi chép nội dung thông tin tiếp nhận theo Mẫu số 01 quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này, trong trường hợp cần thiết và theo nhu cầu của người trình báo thực hiện tư vấn tâm lý, tư vấn chính sách, pháp luật, tư vấn hỗ trợ nạn nhân, cung cấp kỹ năng ứng phó với hành vi mua bán người. 3. Ngay sau khi kết thúc việc tiếp nhận tố giác, tin báo hành vi mua bán người, người tiếp nhận quy định tại khoản 2 Điều này phải thông báo cho cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra hành vi mua bán người hoặc nơi người báo tin cư trú để giải quyết theo quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người. 4. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận và có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp tố giác, tin báo về hành vi mua bán người mà nạn nhân hoặc người nghi là nạn nhân là trẻ em thì việc xử lý theo quy định của pháp luật về trẻ em." } ], "id": "5", "is_impossible": false, "question": "Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người" } ] } ], "title": "Quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về hành vi mua bán người" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 17 Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Trách nhiệm phòng ngừa mua bán người trong tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ” như sau: Các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điều 10 của Luật này có trách nhiệm sau đây: 1. Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; 2. Nắm thông tin về đối tượng được cung cấp dịch vụ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phòng ngừa mua bán người; 3. Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương để phòng ngừa mua bán người; 4. Thực hiện đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra về phòng, chống mua bán người đối với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 5. Phối hợp, thực hiện đầy đủ yêu cầu khi cơ quan có thẩm quyền sàng lọc dấu hiệu bị mua bán đối với người lao động tại tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 6. Chủ động phòng ngừa, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành vi có dấu hiệu mua bán người. Điều 10 Luật Phòng, chống mua bán người quy định như sau: “Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ 1. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây phải được quản lý, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng để thực hiện hành vi mua bán người: a) Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp; kinh doanh casino; kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động, tư vấn du học, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tuyển dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú; b) Hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nuôi con nuôi; c) Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người. 2. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này để phòng, chống mua bán người.”", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 17 Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Trách nhiệm phòng ngừa mua bán người trong tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ” như sau: Các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại Điều 10 của Luật này có trách nhiệm sau đây: 1. Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người; 2. Nắm thông tin về đối tượng được cung cấp dịch vụ và thông báo cho cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phòng ngừa mua bán người; 3. Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, đăng ký lao động với cơ quan quản lý lao động địa phương để phòng ngừa mua bán người; 4. Thực hiện đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh tra, kiểm tra về phòng, chống mua bán người đối với hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 5. Phối hợp, thực hiện đầy đủ yêu cầu khi cơ quan có thẩm quyền sàng lọc dấu hiệu bị mua bán đối với người lao động tại tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở; 6. Chủ động phòng ngừa, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành vi có dấu hiệu mua bán người. Điều 10 Luật Phòng, chống mua bán người quy định như sau: “Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ 1. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây phải được quản lý, kiểm tra nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng để thực hiện hành vi mua bán người: a) Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp; kinh doanh casino; kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh doanh dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động, tư vấn du học, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tuyển dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ lữ hành, lưu trú; b) Hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nuôi con nuôi; c) Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người. 2. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm hướng dẫn, quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này để phòng, chống mua bán người.”" } ], "id": "6", "is_impossible": false, "question": "Cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm gì trong phòng ngừa mua bán người?" } ] } ], "title": "Cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm gì trong phòng ngừa mua bán người?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 231 Bộ luật hình sự quy định về “Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ” như sau: 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên; d) Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 231 Bộ luật hình sự quy định về “Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ” như sau: 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái những quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên; d) Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội. 3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm." } ], "id": "7", "is_impossible": false, "question": "Hành vi cố ý làm trái quy định về hàng cứu trợ sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi cố ý làm trái quy định về hàng cứu trợ sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Qua công tác nắm tình hình, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an phát hiện hành vi lợi dụng việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, các đối tượng lừa đảo mạo danh cán bộ xã/phường hoặc Cảnh sát khu vực gọi điện dụ dỗ người dân truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng VNeID giả mạo chứa mã độc nhằm chiếm quyền điều khiển thiết bị, qua đó chiếm đoạt tài sản của người dân. Ứng dụng giả mạo. Phương thức, thủ đoạn của các đối tượng là: - Gọi điện bằng thuê bao di động thông thường hoặc tổng đài ảo, giả mạo danh nghĩa cơ quan, tổ chức giới thiệu là cán bộ Ủy ban xã/phường, cảnh sát khu vực… thông báo về việc thay đổi bộ máy hành chính, đề nghị người dân cập nhật thông tin mới. Các đối tượng đã thu thập thông tin cá nhân của người dân từ trước và đưa ra để tạo niềm tin trước khi yêu cầu thực hiện theo hướng dẫn của chúng. - Đối tượng yêu cầu người dân truy cập vào đường dẫn do chúng cung cấp hoặc cài đặt ứng dụng VNeID, dịch vụ công giả mạo có chứa mã độc. - Sau khi người dân đã truy cập hoặc cài đặt ứng dụng, chúng đã chiếm quyền điều khiển thiết bị, tiếp tục dẫn dụ người dân làm theo hướng dẫn để tìm cách lấy mã OTP tài khoản ngân hàng hoặc dụ người dân nhìn vào điện thoại nhằm lấy dữ liệu sinh trắc học, từ đó chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của người dân. Bộ Công an cảnh báo: - Người dân tuyệt đối không làm theo yêu cầu qua điện thoại của các đối tượng gọi điện tự xưng là cán bộ xã/phường, cảnh sát khu vực… Nếu cần cập nhật thông tin phải ra trực tiếp Công an xã/phường nơi mình sinh sống. - Tuyên truyền, vận động gia đình, bạn bè, người thân cảnh giác trước phương thức, thủ đoạn trên. - Trường hợp người dân đã truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng chứa mã độc, ngay lập tức liên hệ với ngân hàng để khóa tài khoản và tắt nguồn điện thoại, không để các đối tượng có cơ hội lấy được mã OTP ngân hàng hoặc dữ liệu sinh trắc học. - Trình báo đến cơ quan Công an nơi gần nhất khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. - Bộ Công an khuyến nghị người dân truy cập các tài khoản mạng xã hội chính thức của Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để thường xuyên cập nhật tin tức, tình hình cũng như phương thức, thủ đoạn mới của các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng. *Lưu ý: Ứng dụng VNeID được phát triển bởi Trung tâm Dữ liệu Quốc gia về Dân cư, có thể tìm kiếm và tải về từ CH Play (đối với Android) hoặc App Store (đối với iOS), đều được dán nhãn là ứng dụng Chính phủ hoặc được phát triển bởi cơ quan Nhà nước. Người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin các ứng dụng trước khi tải.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 516, "text": "- Gọi điện bằng thuê bao di động thông thường hoặc tổng đài ảo, giả mạo danh nghĩa cơ quan, tổ chức giới thiệu là cán bộ Ủy ban xã/phường, cảnh sát khu vực… thông báo về việc thay đổi bộ máy hành chính, đề nghị người dân cập nhật thông tin mới. Các đối tượng đã thu thập thông tin cá nhân của người dân từ trước và đưa ra để tạo niềm tin trước khi yêu cầu thực hiện theo hướng dẫn của chúng. - Đối tượng yêu cầu người dân truy cập vào đường dẫn do chúng cung cấp hoặc cài đặt ứng dụng VNeID, dịch vụ công giả mạo có chứa mã độc. - Sau khi người dân đã truy cập hoặc cài đặt ứng dụng, chúng đã chiếm quyền điều khiển thiết bị, tiếp tục dẫn dụ người dân làm theo hướng dẫn để tìm cách lấy mã OTP tài khoản ngân hàng hoặc dụ người dân nhìn vào điện thoại nhằm lấy dữ liệu sinh trắc học, từ đó chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của người dân. Bộ Công an cảnh báo: - Người dân tuyệt đối không làm theo yêu cầu qua điện thoại của các đối tượng gọi điện tự xưng là cán bộ xã/phường, cảnh sát khu vực… Nếu cần cập nhật thông tin phải ra trực tiếp Công an xã/phường nơi mình sinh sống. - Tuyên truyền, vận động gia đình, bạn bè, người thân cảnh giác trước phương thức, thủ đoạn trên. - Trường hợp người dân đã truy cập đường dẫn hoặc cài ứng dụng chứa mã độc, ngay lập tức liên hệ với ngân hàng để khóa tài khoản và tắt nguồn điện thoại, không để các đối tượng có cơ hội lấy được mã OTP ngân hàng hoặc dữ liệu sinh trắc học. - Trình báo đến cơ quan Công an nơi gần nhất khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng. - Bộ Công an khuyến nghị người dân truy cập các tài khoản mạng xã hội chính thức của Bộ Công an, Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để thường xuyên cập nhật tin tức, tình hình cũng như phương thức, thủ đoạn mới của các loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật có sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng. *Lưu ý: Ứng dụng VNeID được phát triển bởi Trung tâm Dữ liệu Quốc gia về Dân cư, có thể tìm kiếm và tải về từ CH Play (đối với Android) hoặc App Store (đối với iOS), đều được dán nhãn là ứng dụng Chính phủ hoặc được phát triển bởi cơ quan Nhà nước. Người dân cần tìm hiểu kỹ thông tin các ứng dụng trước khi tải.”." } ], "id": "8", "is_impossible": false, "question": "Cảnh báo thủ đoạn lợi dụng việc sáp nhập tỉnh, thành để lừa đảo cài ứng dụng VNeID giả mạo nhằm chiếm đoạt tài sản" } ] } ], "title": "Cảnh báo thủ đoạn lợi dụng việc sáp nhập tỉnh, thành để lừa đảo cài ứng dụng VNeID giả mạo nhằm chiếm đoạt tài sản" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi; d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai; e) Đối với 02 người trở lên; g) Đối với người đang cai nghiện; h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác; k) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 13 tuổi. 4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 257 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi; d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi; đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai; e) Đối với 02 người trở lên; g) Đối với người đang cai nghiện; h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác; k) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên; c) Đối với người dưới 13 tuổi. 4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng." } ], "id": "9", "is_impossible": false, "question": "Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào" } ] } ], "title": "Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị xử lý như thế nào" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 6 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân” như sau: 1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền sau đây: a) Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người; b) Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp phòng ngừa mua bán người; c) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận hỗ trợ; d) Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định của pháp luật; đ) Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân; e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; g) Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ; h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ sau đây: a) Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ; b) Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; c) Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc mua bán người; d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 6 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân” như sau: 1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền sau đây: a) Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người; b) Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp phòng ngừa mua bán người; c) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận hỗ trợ; d) Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định của pháp luật; đ) Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân; e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; g) Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ; h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan. 2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ sau đây: a) Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ; b) Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền; c) Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện, điều tra, xử lý vụ việc mua bán người; d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan." } ], "id": "10", "is_impossible": false, "question": "Trường hợp nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của mua bán người có quyền và nghĩa vụ gì?" } ] } ], "title": "Trường hợp nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của mua bán người có quyền và nghĩa vụ gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 32 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Căn cứ để xác định nạn nhân” như sau: 1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây: a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp; b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp; c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp; d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp; đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp; e) Lời khai, tài liệu do người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp; g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp; h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc cung cấp; i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác. 2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc bị mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân: a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác; b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ, quản lý và bị đối xử như nạn nhân này; c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này; d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ vắng mặt tại nơi cư trú; đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 32 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Căn cứ để xác định nạn nhân” như sau: 1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây: a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp; b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp; c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp; d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp; đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp; e) Lời khai, tài liệu do người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp; g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua bán người cung cấp; h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc cung cấp; i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác. 2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không, sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai của họ về việc bị mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân: a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác; b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ, quản lý và bị đối xử như nạn nhân này; c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm, ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này; d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ vắng mặt tại nơi cư trú; đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân." } ], "id": "11", "is_impossible": false, "question": "Căn cứ để xác định nạn nhân được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Căn cứ để xác định nạn nhân được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Ngày 16/7/2014, Bộ Nội vụ ký Quyết định số 732/QĐ-BNV về việc cho phép thành lập Hiệp hội thể thao Bridge&Poker Việt Nam và công nhận Poker là một môn thể thao trí tuệ ở Việt Nam. Vì vậy, việc các câu lạc bộ được thành lập và tổ chức giải thi đấu Poker sẽ phải thực hiện theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL ngày 19/11/2012 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các quy định về điều lệ tổ chức giải đấu Poker theo thể thức tournament của Hiệp hội thể thao Bridge&Poker Việt Nam, cụ thể: 1. Theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL, các giải đấu Poker phải xin cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức cho các vận động viên tham gia giải đấu trong phạm vi mà cơ quan có thẩm quyền đó cấp phép. 2. Các giải đấu phải được công bố thông tin trên các phương tiện truyền thông. 3. Poker chỉ được cấp phép hoạt động dưới hình thức tổ chức giải thi đấu (tournament) với mục đích tạo sân chơi bổ ích và cọ sát trình độ cho các vận động viên tại Việt Nam. 4. Hình thức đánh giải (tournament) là hợp pháp, trong đó người chơi đóng lệ phí tham gia (buy-in). Phần thu từ lệ phí sẽ được dùng để chi trả kinh phí tổ chức và trao thưởng cho người chiến thắng và được đóng thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp đầy đủ. Vì vậy Các câu lạc bộ Poker ở Việt Nam tổ chức các giải đấu (Tournament) cho các thành viên của câu lạc bộ, dưới hình thức người chơi mua vé tham dự và thi đấu đến thứ hạng nhận giải, giải thưởng được trao bằng tiền là hợp pháp nếu việc tổ chức và tham dự giải thi đấu Poker đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên. Nếu thi đấu Poker với mục đích đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức cash game (dùng tiền thật) hoặc mua phỉnh rồi đổi thành tiền là đánh bạc bất hợp pháp, sẽ bị xử lý hình sự về Tội đánh bạc (Điều 321 Bộ luật Hình sự), và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322 Bộ luật Hình sự).", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 487, "text": "1. Theo Thông tư số 09/2012/TT-BVHTTDL, các giải đấu Poker phải xin cấp phép của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức cho các vận động viên tham gia giải đấu trong phạm vi mà cơ quan có thẩm quyền đó cấp phép. 2. Các giải đấu phải được công bố thông tin trên các phương tiện truyền thông. 3. Poker chỉ được cấp phép hoạt động dưới hình thức tổ chức giải thi đấu (tournament) với mục đích tạo sân chơi bổ ích và cọ sát trình độ cho các vận động viên tại Việt Nam. 4. Hình thức đánh giải (tournament) là hợp pháp, trong đó người chơi đóng lệ phí tham gia (buy-in). Phần thu từ lệ phí sẽ được dùng để chi trả kinh phí tổ chức và trao thưởng cho người chiến thắng và được đóng thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp đầy đủ. Vì vậy Các câu lạc bộ Poker ở Việt Nam tổ chức các giải đấu (Tournament) cho các thành viên của câu lạc bộ, dưới hình thức người chơi mua vé tham dự và thi đấu đến thứ hạng nhận giải, giải thưởng được trao bằng tiền là hợp pháp nếu việc tổ chức và tham dự giải thi đấu Poker đáp ứng đầy đủ các tiêu chí trên. Nếu thi đấu Poker với mục đích đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức cash game (dùng tiền thật) hoặc mua phỉnh rồi đổi thành tiền là đánh bạc bất hợp pháp, sẽ bị xử lý hình sự về Tội đánh bạc (Điều 321 Bộ luật Hình sự), và tội Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Điều 322 Bộ luật Hình sự)." } ], "id": "12", "is_impossible": false, "question": "Các trường hợp chơi Poker bất hợp pháp và hợp pháp tại Việt Nam" } ] } ], "title": "Các trường hợp chơi Poker bất hợp pháp và hợp pháp tại Việt Nam" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người." } ], "id": "13", "is_impossible": false, "question": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 5 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người” như sau: 1. Phòng, chống mua bán người là nội dung của chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm và được kết hợp với việc thực hiện các chương trình khác về phát triển kinh tế - xã hội. 2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia, hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. 3. Ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phòng, chống mua bán người; hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống mua bán người. 4. Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật. 5. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản theo quy định của pháp luật. 6. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến phức tạp.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 5 của Luật Phòng, chống mua bán người quy định về “Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người” như sau: 1. Phòng, chống mua bán người là nội dung của chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm và được kết hợp với việc thực hiện các chương trình khác về phát triển kinh tế - xã hội. 2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham gia, hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật. 3. Ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phòng, chống mua bán người; hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác phòng, chống mua bán người. 4. Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật. 5. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản theo quy định của pháp luật. 6. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến phức tạp." } ], "id": "14", "is_impossible": false, "question": "Hiện nay Nhà nước có những chính sách gì đối với công tác phòng, chống mua bán người?" } ] } ], "title": "Hiện nay Nhà nước có những chính sách gì đối với công tác phòng, chống mua bán người?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng đoạt tài sản” như sau: 1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 170 của Bộ luật Hình sự quy định về “Tội cưỡng đoạt tài sản” như sau: 1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản." } ], "id": "15", "is_impossible": false, "question": "Hành vi cưỡng đoạt tài sản sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi cưỡng đoạt tài sản sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như sau: 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 341 Bộ luật Hình sự 2015 ( sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” như sau: 1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”." } ], "id": "16", "is_impossible": false, "question": "Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Ðiều 317 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm” như sau: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; d) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; e) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; i) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Ðiều 317 Bộ luật Hình sự quy định về “Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm” như sau: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; b) Sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật để chế biến thực phẩm hoặc cung cấp, bán thực phẩm mà biết là có nguồn gốc từ động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy mà sản phẩm trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm mà biết là chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trong sản xuất thực phẩm mà sản phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc sản phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; d) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 5.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; đ) Nhập khẩu, cung cấp hoặc bán thực phẩm mà biết là có sử dụng chất, hóa chất, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; thực phẩm trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; e) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản này hoặc chế biến, cung cấp, bán thực phẩm mà biết là thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật, quy định về an toàn thực phẩm gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 05 người đến 20 người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Làm chết người; c) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 21 người đến 100 người; d) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; đ) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; g) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; h) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; i) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Làm chết 02 người; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của từ 101 người đến 200 người; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Làm chết 03 người trở lên; b) Gây ngộ độc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của 201 người trở lên; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; d) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm cấm sử dụng hoặc ngoài danh mục được phép sử dụng trị giá 500.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 300.000.000 đồng trở lên; đ) Thực phẩm có sử dụng nguyên liệu là động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc động vật bị tiêu hủy trị giá 500.000.000 đồng trở lên; e) Thực phẩm có sử dụng chất, hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm hoặc chất hỗ trợ chế biến thực phẩm chưa được phép sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành tại Việt Nam trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”." } ], "id": "17", "is_impossible": false, "question": "Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về nội dung này, Bộ Công an trả lời như sau: Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 45, "text": "Tại Điều 9 của Luật Phòng chống mua bán người năm 2024 quy định về “Quản lý về an ninh, trật tự” như sau: Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây: 1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người; 2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của pháp luật; 3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống mua bán người; 4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người; 5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để phòng, chống mua bán người; 6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh; ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người; 7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán người." } ], "id": "18", "is_impossible": false, "question": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" } ] } ], "title": "Việc quản lý về an ninh, trật tự trong công tác phòng, chống mua bán người được quy định như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về vấn đề này, Bộ Công an trả lời như sau: Trong những năm gần đây, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng để hoạt động diễn biến phức tạp. Các đối tượng triệt để sử dụng các ứng dụng, công nghệ, phương tiện hiện đại để thực hiện hành vi phạm tội, hoạt động ẩn danh, khó truy vết; phần lớn hoạt động có tổ chức, nhưng chỉ liên lạc, móc nối qua không gian mạng, không tiếp xúc, trao đổi ngoài đời thực. Đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hình thức nhắn tin, gọi điện qua điện thoại, qua mạng xã hội diễn ra rất phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, đồng thời thường xuyên thay đổi để đối phó với cơ quan chức năng. Điển hình là khi chúng ta thực hiện chủ trương chuẩn hóa thông tin thuê bao di động, làm sạch \"Sim rác\" để hạn chế tội phạm lừa đảo, thì các đối tượng lại lợi dụng chính chủ trương này để mạo danh cơ quan quản lý nhà nước, nhân viên các nhà mạng, ngân hàng gọi điện để yêu cầu người dân cung cấp thông tin cá nhân để chiếm đoạt \"Sim\" điện thoại của nạn nhân, tài khoản ngân hàng, ví điện tử, mạng xã hội... để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và như cử tri phản ánh. Điều này cho thấy tính chất phức tạp của loại tội phạm này, việc phát hiện, xử lý là rất khó khăn. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tăng cường công tác nắm tình hình; chủ động phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm lừa đảo trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài ngành Công an xây dựng, đăng tải hàng trăm phóng sự cảnh báo về phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đề nghị các doanh nghiệp viễn thông đồng loạt gửi tin nhắn tuyên truyền người dân chấp hành các quy định của pháp luật. Tổ chức triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Năm 2024, lực lượng Công an phát hiện, xử lý hơn 7.866 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản (có hơn 4.100 vụ lừa đảo trên không gian mạng) - theo mốc thống kê số liệu của Quốc hội). Kết quả đấu tranh đã góp phần ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo toàn lực lượng bám sát các nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 21/CT-TTg, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ và đấu tranh trấn áp tội phạm, cụ thể: (1) Phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao ý thức cảnh giác của người dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại cộng đồng, trên các trang mạng xã hội (đặc biệt là người dân trong độ tuổi lao động, thanh thiếu niên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) về các phương thức, thủ đoạn hoạt động và hậu quả của tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và Nhân dân biết, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp với các nhà mạng viễn thông gửi tin nhắn đến các thuê bao di động cảnh báo tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác trước các phương thức hoạt động của tội phạm lợi dụng không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. (2) Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên không gian mạng; thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử; đẩy mạnh thực hiện Đề án 06/CP về \"Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030\", nhất là ứng dụng dữ liệu dân cư để xác thực thông tin thuê bao di động loại bỏ \"Sim rác\", xác thực tài khoản ngân hàng, xác thực sinh trắc học khi thực hiện các giao dịch trong thanh toán trực tuyến trên Internet, hạn chế các trường hợp sử dụng vào mục đích hoạt động lừa đảo; sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) trong các giao dịch điện tử, góp phần phòng ngừa tội phạm. (3) Triển khai các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; thông báo toàn quốc số điện thoại đường dây nóng (0692.345.860) của Cục Cảnh sát hình sự là đầu mối tiếp nhận tin báo, tố giác của người dân về các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phối hợp Viện kiểm sát, Tòa án các cấp điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh để răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp nhanh, \"khẩn cấp\" truy vết dòng tiền, tạm khóa, phong tỏa tài khoản liên quan đến hoạt động phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (4) Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng nói chung và phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng không gian mạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, nhất là chia sẻ xác minh thông tin, thu thập tài liệu, chứng cứ, đấu tranh, bắt giữ và chuyển giao đối tượng gây án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng của Lào, Campuchia và các quốc gia có liên quan trong hợp tác đấu tranh chuyên án chung đối với các đối tượng lợi dụng địa bàn nước ngoài để hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của công dân trong nước.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 43, "text": "Trong những năm gần đây, các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng để hoạt động diễn biến phức tạp. Các đối tượng triệt để sử dụng các ứng dụng, công nghệ, phương tiện hiện đại để thực hiện hành vi phạm tội, hoạt động ẩn danh, khó truy vết; phần lớn hoạt động có tổ chức, nhưng chỉ liên lạc, móc nối qua không gian mạng, không tiếp xúc, trao đổi ngoài đời thực. Đặc biệt là tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hình thức nhắn tin, gọi điện qua điện thoại, qua mạng xã hội diễn ra rất phức tạp, với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, đồng thời thường xuyên thay đổi để đối phó với cơ quan chức năng. Điển hình là khi chúng ta thực hiện chủ trương chuẩn hóa thông tin thuê bao di động, làm sạch \"Sim rác\" để hạn chế tội phạm lừa đảo, thì các đối tượng lại lợi dụng chính chủ trương này để mạo danh cơ quan quản lý nhà nước, nhân viên các nhà mạng, ngân hàng gọi điện để yêu cầu người dân cung cấp thông tin cá nhân để chiếm đoạt \"Sim\" điện thoại của nạn nhân, tài khoản ngân hàng, ví điện tử, mạng xã hội... để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản và như cử tri phản ánh. Điều này cho thấy tính chất phức tạp của loại tội phạm này, việc phát hiện, xử lý là rất khó khăn. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã chỉ đạo Công an các đơn vị, địa phương tăng cường công tác nắm tình hình; chủ động phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh với tội phạm lừa đảo trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài ngành Công an xây dựng, đăng tải hàng trăm phóng sự cảnh báo về phương thức, thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng; đề nghị các doanh nghiệp viễn thông đồng loạt gửi tin nhắn tuyên truyền người dân chấp hành các quy định của pháp luật. Tổ chức triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội theo Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 25/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Năm 2024, lực lượng Công an phát hiện, xử lý hơn 7.866 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản (có hơn 4.100 vụ lừa đảo trên không gian mạng) - theo mốc thống kê số liệu của Quốc hội). Kết quả đấu tranh đã góp phần ngăn chặn tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội, Bộ Công an đã và đang chỉ đạo toàn lực lượng bám sát các nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 21/CT-TTg, thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phòng ngừa xã hội, phòng ngừa nghiệp vụ và đấu tranh trấn áp tội phạm, cụ thể: (1) Phối hợp với các Bộ, ngành và các cơ quan quản lý báo chí, cơ quan báo chí, truyền thông tuyên truyền định hướng dư luận, nâng cao ý thức cảnh giác của người dân với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại cộng đồng, trên các trang mạng xã hội (đặc biệt là người dân trong độ tuổi lao động, thanh thiếu niên ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) về các phương thức, thủ đoạn hoạt động và hậu quả của tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội để các cơ quan, tổ chức, cá nhân và Nhân dân biết, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, đấu tranh, kịp thời tố giác tội phạm. Phối hợp với các nhà mạng viễn thông gửi tin nhắn đến các thuê bao di động cảnh báo tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, giúp người dân nâng cao ý thức cảnh giác trước các phương thức hoạt động của tội phạm lợi dụng không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao. (2) Phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động trên không gian mạng; thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật Giao dịch điện tử, Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Nghị định số 59/2022/NĐ-CP ngày 05/9/2022 của Chính phủ quy định về định danh và xác thực điện tử; đẩy mạnh thực hiện Đề án 06/CP về \"Phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến 2030\", nhất là ứng dụng dữ liệu dân cư để xác thực thông tin thuê bao di động loại bỏ \"Sim rác\", xác thực tài khoản ngân hàng, xác thực sinh trắc học khi thực hiện các giao dịch trong thanh toán trực tuyến trên Internet, hạn chế các trường hợp sử dụng vào mục đích hoạt động lừa đảo; sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) trong các giao dịch điện tử, góp phần phòng ngừa tội phạm. (3) Triển khai các biện pháp nghiệp vụ phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên mạng viễn thông, mạng internet, mạng xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố; thông báo toàn quốc số điện thoại đường dây nóng (0692.345.860) của Cục Cảnh sát hình sự là đầu mối tiếp nhận tin báo, tố giác của người dân về các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Phối hợp Viện kiểm sát, Tòa án các cấp điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh để răn đe, phòng ngừa chung. Đồng thời, phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu xây dựng cơ chế phối hợp nhanh, \"khẩn cấp\" truy vết dòng tiền, tạm khóa, phong tỏa tài khoản liên quan đến hoạt động phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. (4) Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm mạng nói chung và phòng ngừa, xử lý hoạt động sử dụng không gian mạng lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, nhất là chia sẻ xác minh thông tin, thu thập tài liệu, chứng cứ, đấu tranh, bắt giữ và chuyển giao đối tượng gây án, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt. Tiếp tục phối hợp với lực lượng chức năng của Lào, Campuchia và các quốc gia có liên quan trong hợp tác đấu tranh chuyên án chung đối với các đối tượng lợi dụng địa bàn nước ngoài để hoạt động lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của công dân trong nước." } ], "id": "19", "is_impossible": false, "question": "Kiến nghị về việc tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm lừa đảo qua mạng" } ] } ], "title": "Kiến nghị về việc tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm lừa đảo qua mạng" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh và việc phải làm thủ tục hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được thực hiện theo các quy định của pháp luật, gồm: (1) khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan 2014 quy định \"7. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi\"; (2) Điều 54 Luật Hải quan 2014 quy định \"1. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu; 2. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh; 3. Tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế\"; (3) khoản 30 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 quy định \"2. Người xuất cảnh, nhập cảnh không phải khai hải quan nếu không có hành lý vượt định mức miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế, không có hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi. Người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi khai hải quan, người khai hải quan không gộp chung định mức miễn thuế của nhiều người nhập cảnh để khai báo miễn thuế cho một người nhập cảnh, trừ hành lý của các cá nhân trong một gia đình mang theo trong cùng chuyến đi. Việc khai báo định mức miễn thuế tính theo từng lần nhập cảnh \". Miễn thuế đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập nhẩu \"1. Người nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc giấy tờ thay hộ chiếu (trừ giấy thông hành dùng cho việc xuất cảnh, nhập cảnh), do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp, có hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi được miễn thuế nhập khẩu cho từng lần nhập cảnh theo định mức như sau: a) Rượu từ 20 độ trở lên: 1,5 lít hoặc rượu dưới 20 độ: 2,0 lít hoặc đồ uống có cồn, bia: 3,0 lít. Đối với rượu, nếu người nhập cảnh mang nguyên chai, bình, lọ, can (sau đây viết tắt là chai) có dung tích lớn hơn dung tích quy định nhưng không vượt quá 01 lít thì được miễn thuế cả chai. Trường hợp vượt quá 01 lít thì phần vượt định mức phải nộp thuế theo quy định của pháp luật; b) Thuốc lá điếu: 200 điếu hoặc thuốc lá sợi: 250 gam hoặc xì gà: 20 điếu; c) Đồ dùng cá nhân với số lượng, chủng loại phù hợp với mục đích chuyến đi; d) Các vật phẩm khác ngoài hàng hóa quy định tại các điểm a, b, và c khoản này (không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện) có tổng trị giá hải quan không quá 10.000.000 đồng Việt Nam; Trường hợp vượt định mức phải nộp thuế, người nhập cảnh được chọn vật phẩm để miễn thuế trong trường hợp hành lý mang theo gồm nhiều vật phẩm\". Căn cứ quy định theo từng thời điểm để xác định tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp, người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp một người đi du lịch rồi mua kim cương hoặc các loại đá quý khác bỏ vào hành lý mang về, nếu vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc xử lý phải căn cứ vào hành vi ý thức của người thực hiện theo từng trường hợp cụ thể.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 173, "text": "(1) khoản 7 Điều 4 Luật Hải quan 2014 quy định \"7. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi\"; (2) Điều 54 Luật Hải quan 2014 quy định \"1. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu; 2. Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh; 3. Tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế\"; (3) khoản 30 Điều 1 Nghị định 59/2018/NĐ-CP ngày 20/4/2018 quy định \"2. Người xuất cảnh, nhập cảnh không phải khai hải quan nếu không có hành lý vượt định mức miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế, không có hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi. Người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Khi khai hải quan, người khai hải quan không gộp chung định mức miễn thuế của nhiều người nhập cảnh để khai báo miễn thuế cho một người nhập cảnh, trừ hành lý của các cá nhân trong một gia đình mang theo trong cùng chuyến đi. Việc khai báo định mức miễn thuế tính theo từng lần nhập cảnh \". Miễn thuế đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh được quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhập nhẩu \"1. Người nhập cảnh bằng hộ chiếu hoặc giấy tờ thay hộ chiếu (trừ giấy thông hành dùng cho việc xuất cảnh, nhập cảnh), do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của nước ngoài cấp, có hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi được miễn thuế nhập khẩu cho từng lần nhập cảnh theo định mức như sau: a) Rượu từ 20 độ trở lên: 1,5 lít hoặc rượu dưới 20 độ: 2,0 lít hoặc đồ uống có cồn, bia: 3,0 lít. Đối với rượu, nếu người nhập cảnh mang nguyên chai, bình, lọ, can (sau đây viết tắt là chai) có dung tích lớn hơn dung tích quy định nhưng không vượt quá 01 lít thì được miễn thuế cả chai. Trường hợp vượt quá 01 lít thì phần vượt định mức phải nộp thuế theo quy định của pháp luật; b) Thuốc lá điếu: 200 điếu hoặc thuốc lá sợi: 250 gam hoặc xì gà: 20 điếu; c) Đồ dùng cá nhân với số lượng, chủng loại phù hợp với mục đích chuyến đi; d) Các vật phẩm khác ngoài hàng hóa quy định tại các điểm a, b, và c khoản này (không nằm trong Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc nhập khẩu có điều kiện) có tổng trị giá hải quan không quá 10.000.000 đồng Việt Nam; Trường hợp vượt định mức phải nộp thuế, người nhập cảnh được chọn vật phẩm để miễn thuế trong trường hợp hành lý mang theo gồm nhiều vật phẩm\". Căn cứ quy định theo từng thời điểm để xác định tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Trường hợp, người xuất cảnh, nhập cảnh mang hàng hóa vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Như vậy, trường hợp một người đi du lịch rồi mua kim cương hoặc các loại đá quý khác bỏ vào hành lý mang về, nếu vượt định mức hành lý miễn thuế qua khu vực kiểm tra hải quan mà không khai hải quan đều coi là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bất hợp pháp và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việc xử lý phải căn cứ vào hành vi ý thức của người thực hiện theo từng trường hợp cụ thể." } ], "id": "20", "is_impossible": false, "question": "Vận chuyển đá quý trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?" } ] } ], "title": "Vận chuyển đá quý trái phép sẽ bị xử lý như thế nào?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Tại Điều 14 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa như sau: 1. Việc nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa do tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện và phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; c) Có nội quy ra, vào tổ chức, doanh nghiệp, phương án bảo đảm an ninh, trật tự; kiểm soát phương tiện, đồ vật, hàng hóa được vận chuyển ra, vào tổ chức, doanh nghiệp; tổ chức lực lượng bảo vệ 24/24 giờ; d) Có nội quy, trang bị đầy đủ phương tiện, tổ chức lực lượng, kiểm tra an toàn phòng cháy, chữa cháy, phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; tổ chức diễn tập phương án ứng phó sự cố cháy, nổ và các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy theo quy định; đ) Thực hiện các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý nguyên liệu, phế thải và xử lý ô nhiễm môi trường tại chỗ; không để rò rỉ, phát tán độc hại ra môi trường; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; e) Địa điểm nghiên cứu, sản xuất và kho bảo quản phải bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình công cộng, văn hóa, xã hội, lịch sử, khu vực bảo vệ, nơi cấm, khu vực cấm; g) Phải có phương tiện, thiết bị phù hợp để kiểm tra, giám sát các thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình nghiên cứu, sản xuất; có nơi thử nghiệm riêng biệt; h) Sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sản phẩm phải có nhãn hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng; i) Người quản lý và người lao động trực tiếp tham gia nghiên cứu, sản xuất phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn. 2. Việc kinh doanh pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; b) Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh pháo hoa phải phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển, phòng cháy và chữa cháy; c) Người quản lý, người phục vụ có liên quan đến kinh doanh pháo hoa phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn; d) Chỉ được kinh doanh pháo hoa bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định. 3. Việc xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được phép nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa thì được xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Pháo hoa xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chủng loại, nhãn hiệu, số hiệu, ký hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng trên từng loại pháo hoa.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 181, "text": "1. Việc nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa do tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng thực hiện và phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp được Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; c) Có nội quy ra, vào tổ chức, doanh nghiệp, phương án bảo đảm an ninh, trật tự; kiểm soát phương tiện, đồ vật, hàng hóa được vận chuyển ra, vào tổ chức, doanh nghiệp; tổ chức lực lượng bảo vệ 24/24 giờ; d) Có nội quy, trang bị đầy đủ phương tiện, tổ chức lực lượng, kiểm tra an toàn phòng cháy, chữa cháy, phương án chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; tổ chức diễn tập phương án ứng phó sự cố cháy, nổ và các biện pháp bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy theo quy định; đ) Thực hiện các biện pháp giảm thiểu, thu gom, xử lý nguyên liệu, phế thải và xử lý ô nhiễm môi trường tại chỗ; không để rò rỉ, phát tán độc hại ra môi trường; bảo đảm nguồn lực, trang thiết bị đáp ứng khả năng phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường; e) Địa điểm nghiên cứu, sản xuất và kho bảo quản phải bảo đảm khoảng cách an toàn đối với khu dân cư, công trình công cộng, văn hóa, xã hội, lịch sử, khu vực bảo vệ, nơi cấm, khu vực cấm; g) Phải có phương tiện, thiết bị phù hợp để kiểm tra, giám sát các thông số kỹ thuật và phục vụ công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình nghiên cứu, sản xuất; có nơi thử nghiệm riêng biệt; h) Sản phẩm phải bảo đảm chất lượng, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sản phẩm phải có nhãn hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng; i) Người quản lý và người lao động trực tiếp tham gia nghiên cứu, sản xuất phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn. 2. Việc kinh doanh pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Chỉ tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được kinh doanh pháo hoa và phải được cơ quan Công an có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, ứng phó sự cố và bảo vệ môi trường; b) Kho, phương tiện vận chuyển, thiết bị, dụng cụ phục vụ kinh doanh pháo hoa phải phù hợp, bảo đảm điều kiện về bảo quản, vận chuyển, phòng cháy và chữa cháy; c) Người quản lý, người phục vụ có liên quan đến kinh doanh pháo hoa phải được huấn luyện về kỹ thuật an toàn; d) Chỉ được kinh doanh pháo hoa bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định. 3. Việc xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa phải bảo đảm các điều kiện sau đây: a) Tổ chức, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng được phép nghiên cứu, sản xuất pháo hoa, thuốc pháo hoa thì được xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa; b) Pháo hoa xuất khẩu, nhập khẩu phải bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; chủng loại, nhãn hiệu, số hiệu, ký hiệu, nước sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng trên từng loại pháo hoa." } ], "id": "21", "is_impossible": false, "question": "Điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa gồm những gì?" } ] } ], "title": "Điều kiện nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu pháo hoa, thuốc pháo hoa gồm những gì?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Tội phạm xâm hại trẻ em Theo thống kê số liệu 63/63 tỉnh, thành phố năm 2018, toàn quốc phát hiện 1.547 vụ xâm hại trẻ em, giảm 2,8% so với năm 2017 (1.547/1.592) với 1.669 đối tượng, xâm hại 1.579 em. Trong đó, số vụ án xâm hại tình dục trẻ em là 1.269 vụ (chiếm 82% so với tổng số vụ xâm hại trẻ em) với 1.233 đối tượng, xâm hại 1.141 em. * Phân tích theo tội danh: - Giết trẻ em : 43 vụ, 39 đối tượng, xâm hại 48 em; - Hiếp dâm trẻ em : 425 vụ, 411 đối tượng, xâm hại 391 em; - Cưỡng dâm trẻ em : 06 vụ, 06 đối tượng, xâm hại 06 em; - Giao cấu với trẻ em : 606 vụ, 591 đối tượng, xâm hại 531 em; - Dâm ô với trẻ em : 232 vụ, 225 đối tượng, xâm hại 213 em; - Cố ý gây thương tích với trẻ em : 103 vụ, 182 đối tượng, xâm hại 114 em; - Mua bán, chiếm đoạt trẻ em : 22 vụ, 44 đối tượng, xâm hại 24 em; - Tội phạm khác : 97 vụ, 125 đối tượng, xâm hại 133 em. * Kết quả xử lý: - Xử lý hình sự: 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); - Xử lý hành chính: 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%). - Đang điều tra xác minh: 62 vụ (chiếm 4%) với 58 đối tượng (chiếm 3,5%), còn lại các vụ tạm đình chỉ, không khởi tố… Các địa phương xảy ra nhiều vụ án xâm hại trẻ em gồm: Hà Nội 88 vụ, TP. Hồ Chí Minh 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ… Các đối tượng có hành vi bạo lực, bạo hành, xâm hại trẻ em ở nhiều lứa tuổi, thành phần xã hội khác nhau, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật và xã hội còn rất hạn chế. Phân tích cho thấy số đông là người có trách nhiệm nuôi dưỡng, bảo mẫu, quản lý trẻ em như giáo viên, bảo mẫu, cha mẹ ruột, cha dượng, mẹ kế; nạn nhân thường là trẻ em nhỏ tuổi được cha mẹ gửi quản lý, chăm sóc hoặc sống trong gia đình không hoàn thiện, cha mẹ ly thân, ly hôn phải sống với cha dượng, mẹ kế… Các trường hợp khác nằm ngoài sự quản lý của cha mẹ, người thân nên bị các đối tượng xâm hại. Một số vụ việc do hoàn cảnh khó khăn, người mẹ sinh con ngoài ý muốn lo sợ ảnh hưởng đến bản thân, danh dự gia đình đã vứt bỏ con khi mới sinh hoặc cố ý bỏ con tại các nơi công cộng, nơi hoang vắng, các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà chùa, nhà thờ… 2. Tội phạm mua bán người Năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ/261 đối tượng. Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ/194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ/233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ/213 bị cáo; các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người nhập cảnh, di cư trái phép. Năm 2018, một loại hình tội phạm mới được các đối tượng thực hiện nhưng rất khó khăn trong xử lý khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là tình trạng các đối tượng đưa những phụ nữ có thai ra nước ngoài dưỡng thai sau đó đẻ và bán con. Với hành vi này hiện chưa thể áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý các đối tượng về hành vi mua bán người. Điển hình là vụ 05 phụ nữ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đang có thai được Mông Thị Oanh đưa sang Trung Quốc đẻ sau đó bán con tại Trung Quốc. 3. Giải pháp 3.1. Giải pháp về tuyên truyền: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trong công tác tuyên truyền phải tạo dư luận xã hội mạnh mẽ và hướng dư luận xã hội vào việc tham gia phòng ngừa phát hiện đấu tranh, lên án, ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng, đảm bảo công tác tuyên truyền thực sự có hiệu quả hấp dẫn, đúng quy định, ưu tiên hướng về cơ sở. 3.2. Giải pháp về kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng, vì vậy, muốn phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người có hiệu quả thì không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ các giải pháp về kinh tế bao gồm: - Phát triển và giữ vững sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc gia, ở mỗi vùng và mỗi địa phương, trên cơ sở đó tăng cường đầu tư vào các chế độ, phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, phụ nữ nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội đối với các gia đình và trẻ em phụ nữ gặp nhiều khó khăn về kinh tế tại cộng đồng như hướng dẫn hoặc giải quyết tìm việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế gia đình, hạn chế số trẻ em vì khó khăn gia đình mà phải bỏ học hoặc bỏ nhà đi lang thang kiếm sống để trở về gia đình, ổn định cuộc sống. 3.3. Giải pháp về chính sách pháp luật: - Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và mua bán người. Đồng thời tăng cường công tác phổ biến pháp luật, kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến xâm hại trẻ em và mua bán người nói riêng. - Xây dựng và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng khác có liên quan nhằm phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người; từng bước chuyên môn hóa tổ chức và cán bộ làm nhiệm vụ này. 3.4. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ: - Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng miền, khu vực, cụm dân cư thường xảy ra tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. - Lên danh sách những đối tượng tiềm ẩn nguy cơ phạm tội xâm hại trẻ em, chủ yếu tội phạm giết trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và những đối tượng thường rủ rê, lôi kéo, cưỡng ép, mua chuộc các em vào con đường phạm tội. - Lên danh sách các em chưa thành niên có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, chủ yếu là số hư hỏng, bỏ nhà lang thang, tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… - Lên danh sách các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em sống xa cha mẹ, có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực gia đình… Đồng thời có kế hoạch cụ thể trong việc phân công giúp đỡ quản lý trợ giúp tại gia đình, cộng đồng. - Chủ động mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tham mưu cho Bộ, Chính phủ mở các kế hoạch chuyên đề theo từng thời gian, vùng miền để đấu tranh ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. 3.5 Về công tác phối hợp Phối hợp với Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp tổ chức xét xử nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em, mua bán người để vừa răn đe tội phạm vừa tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng nâng cao tinh thần phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm hại trẻ em và buôn bán người.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 371, "text": "- Giết trẻ em : 43 vụ, 39 đối tượng, xâm hại 48 em; - Hiếp dâm trẻ em : 425 vụ, 411 đối tượng, xâm hại 391 em; - Cưỡng dâm trẻ em : 06 vụ, 06 đối tượng, xâm hại 06 em; - Giao cấu với trẻ em : 606 vụ, 591 đối tượng, xâm hại 531 em; - Dâm ô với trẻ em : 232 vụ, 225 đối tượng, xâm hại 213 em; - Cố ý gây thương tích với trẻ em : 103 vụ, 182 đối tượng, xâm hại 114 em; - Mua bán, chiếm đoạt trẻ em : 22 vụ, 44 đối tượng, xâm hại 24 em; - Tội phạm khác : 97 vụ, 125 đối tượng, xâm hại 133 em. * Kết quả xử lý: - Xử lý hình sự: 1.255 vụ (chiếm 81%) với 1.360 đối tượng (chiếm 81%); - Xử lý hành chính: 112 vụ (chiếm 7,2%) với 162 đối tượng (chiếm 9,7%). - Đang điều tra xác minh: 62 vụ (chiếm 4%) với 58 đối tượng (chiếm 3,5%), còn lại các vụ tạm đình chỉ, không khởi tố… Các địa phương xảy ra nhiều vụ án xâm hại trẻ em gồm: Hà Nội 88 vụ, TP. Hồ Chí Minh 77 vụ, Đắk Lắk 52 vụ, Tây Ninh 51 vụ, Đồng Nai 46 vụ… Các đối tượng có hành vi bạo lực, bạo hành, xâm hại trẻ em ở nhiều lứa tuổi, thành phần xã hội khác nhau, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật và xã hội còn rất hạn chế. Phân tích cho thấy số đông là người có trách nhiệm nuôi dưỡng, bảo mẫu, quản lý trẻ em như giáo viên, bảo mẫu, cha mẹ ruột, cha dượng, mẹ kế; nạn nhân thường là trẻ em nhỏ tuổi được cha mẹ gửi quản lý, chăm sóc hoặc sống trong gia đình không hoàn thiện, cha mẹ ly thân, ly hôn phải sống với cha dượng, mẹ kế… Các trường hợp khác nằm ngoài sự quản lý của cha mẹ, người thân nên bị các đối tượng xâm hại. Một số vụ việc do hoàn cảnh khó khăn, người mẹ sinh con ngoài ý muốn lo sợ ảnh hưởng đến bản thân, danh dự gia đình đã vứt bỏ con khi mới sinh hoặc cố ý bỏ con tại các nơi công cộng, nơi hoang vắng, các trung tâm bảo trợ xã hội, nhà chùa, nhà thờ… 2. Tội phạm mua bán người Năm 2018, toàn quốc phát hiện 211 vụ với 276 đối tượng, lừa bán 386 nạn nhân, so với năm 2017 giảm 43,88% số vụ, giảm 43,8% số đối tượng, trong đó đã điều tra, khởi tố 200 vụ/261 đối tượng. Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 109 vụ/194 bị can. Tòa án nhân dân các cấp thụ lý 130 vụ/233 bị cáo; đã giải quyết, xét xử 116 vụ/213 bị cáo; các cơ quan chức năng đã xác minh, giải cứu, tiếp nhận gần 1.500 trường hợp, trong đó có hơn 490 trường hợp được xác định là nạn nhân bị mua bán, còn lại là những người nhập cảnh, di cư trái phép. Năm 2018, một loại hình tội phạm mới được các đối tượng thực hiện nhưng rất khó khăn trong xử lý khi áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015, đó là tình trạng các đối tượng đưa những phụ nữ có thai ra nước ngoài dưỡng thai sau đó đẻ và bán con. Với hành vi này hiện chưa thể áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử lý các đối tượng về hành vi mua bán người. Điển hình là vụ 05 phụ nữ ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đang có thai được Mông Thị Oanh đưa sang Trung Quốc đẻ sau đó bán con tại Trung Quốc. 3. Giải pháp 3.1. Giải pháp về tuyên truyền: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, trong công tác tuyên truyền phải tạo dư luận xã hội mạnh mẽ và hướng dư luận xã hội vào việc tham gia phòng ngừa phát hiện đấu tranh, lên án, ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người. Nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền của các cơ quan thông tin đại chúng, đảm bảo công tác tuyên truyền thực sự có hiệu quả hấp dẫn, đúng quy định, ưu tiên hướng về cơ sở. 3.2. Giải pháp về kinh tế: Hoàn cảnh kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng tội phạm gia tăng, vì vậy, muốn phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người có hiệu quả thì không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ các giải pháp về kinh tế bao gồm: - Phát triển và giữ vững sự phát triển ổn định của nền kinh tế quốc gia, ở mỗi vùng và mỗi địa phương, trên cơ sở đó tăng cường đầu tư vào các chế độ, phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, phụ nữ nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. - Thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội đối với các gia đình và trẻ em phụ nữ gặp nhiều khó khăn về kinh tế tại cộng đồng như hướng dẫn hoặc giải quyết tìm việc làm, hỗ trợ vốn để phát triển kinh tế gia đình, hạn chế số trẻ em vì khó khăn gia đình mà phải bỏ học hoặc bỏ nhà đi lang thang kiếm sống để trở về gia đình, ổn định cuộc sống. 3.3. Giải pháp về chính sách pháp luật: - Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm hại trẻ em và mua bán người. Đồng thời tăng cường công tác phổ biến pháp luật, kiểm tra giám sát việc chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật liên quan đến xâm hại trẻ em và mua bán người nói riêng. - Xây dựng và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật và các cơ quan chức năng khác có liên quan nhằm phục vụ tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm mua bán người; từng bước chuyên môn hóa tổ chức và cán bộ làm nhiệm vụ này. 3.4. Công tác phòng ngừa nghiệp vụ: - Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, xã hội của từng vùng miền, khu vực, cụm dân cư thường xảy ra tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. - Lên danh sách những đối tượng tiềm ẩn nguy cơ phạm tội xâm hại trẻ em, chủ yếu tội phạm giết trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em và những đối tượng thường rủ rê, lôi kéo, cưỡng ép, mua chuộc các em vào con đường phạm tội. - Lên danh sách các em chưa thành niên có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội, chủ yếu là số hư hỏng, bỏ nhà lang thang, tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… - Lên danh sách các em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em sống xa cha mẹ, có nguy cơ bị xâm hại, bạo lực gia đình… Đồng thời có kế hoạch cụ thể trong việc phân công giúp đỡ quản lý trợ giúp tại gia đình, cộng đồng. - Chủ động mở các đợt cao điểm tấn công tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tham mưu cho Bộ, Chính phủ mở các kế hoạch chuyên đề theo từng thời gian, vùng miền để đấu tranh ngăn chặn tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi chưa thành niên, tội phạm liên quan đến bạo lực gia đình, tội phạm mua bán người. 3.5 Về công tác phối hợp Phối hợp với Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp tổ chức xét xử nghiêm minh các vụ án xâm hại trẻ em, mua bán người để vừa răn đe tội phạm vừa tạo điều kiện phát động phong trào quần chúng nâng cao tinh thần phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm xâm hại trẻ em và buôn bán người." } ], "id": "22", "is_impossible": false, "question": "Giải pháp của Bộ Công an đối với loại tội phạm mua bán người và xâm hại tình dục trẻ em" } ] } ], "title": "Giải pháp của Bộ Công an đối với loại tội phạm mua bán người và xâm hại tình dục trẻ em" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Về việc này, Bộ Công an trả lời như sau: Hiện nay, tình trạng lộ, lọt, hoạt động đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân diễn ra phổ biến trên không gian mạng, phức tạp như cử tri phản ánh, đặt ra nhiều thách thức cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để ngăn chặn tình trạng lộ, lọt thông tin cá nhân và hành vi vi phạm pháp luật về dữ liệu cá nhân, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2023. Việc ban hành Nghị định này đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo đảm kế thừa văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân, thông tin cá nhân, quyền riêng tư; cụ thể hóa đầy đủ tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Thời gian tới, để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện một số giải pháp sau: (1) Tham mưu Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị định số 13/2023/NĐ-CP; đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. (2) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân; truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân; đưa ra cảnh báo về các hành vi, phương thức, thủ đoạn thu thập thông tin cá nhân, mua bán dữ liệu cá nhân qua các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao ý thức cảnh giác, bảo mật thông tin cá nhân của người dân, có biện pháp bảo vệ các tài khoản ngân hàng, tài khoản cá nhân để tránh bị các đối tượng lợi dụng, chiếm đoạt; hướng dẫn người dân tố giác khi bị thu thập thông tin cá nhân trái phép… (3) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật. (4) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các địa phương tập trung lực lượng, chủ động rà soát, nắm tình hình, lên danh sách, quản lý các đối tượng có biểu hiện mua bán, sử dụng thông tin cá nhân trái phép; làm tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các đối tượng. Kịp thời điều tra, đề nghị truy tố, xét xử công khai đối với các vụ án đã được phát hiện để răn đe, giáo dục và tuyên truyền cho nhân dân cảnh giác, phòng ngừa. (5) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là lực lượng được giao làm công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân, thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 41, "text": "Hiện nay, tình trạng lộ, lọt, hoạt động đánh cắp, mua bán dữ liệu cá nhân diễn ra phổ biến trên không gian mạng, phức tạp như cử tri phản ánh, đặt ra nhiều thách thức cho công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Để ngăn chặn tình trạng lộ, lọt thông tin cá nhân và hành vi vi phạm pháp luật về dữ liệu cá nhân, Bộ Công an đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2023. Việc ban hành Nghị định này đã thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bảo đảm kế thừa văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật cá nhân, thông tin cá nhân, quyền riêng tư; cụ thể hóa đầy đủ tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Thời gian tới, để tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân, Bộ Công an tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện một số giải pháp sau: (1) Tham mưu Chính phủ chỉ đạo tổ chức triển khai, thực hiện có hiệu quả Nghị định số 13/2023/NĐ-CP; đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. (2) Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân cho tổ chức, doanh nghiệp và người dân; truyền thông, phổ biến kiến thức, kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân; đưa ra cảnh báo về các hành vi, phương thức, thủ đoạn thu thập thông tin cá nhân, mua bán dữ liệu cá nhân qua các phương tiện thông tin đại chúng để nâng cao ý thức cảnh giác, bảo mật thông tin cá nhân của người dân, có biện pháp bảo vệ các tài khoản ngân hàng, tài khoản cá nhân để tránh bị các đối tượng lợi dụng, chiếm đoạt; hướng dẫn người dân tố giác khi bị thu thập thông tin cá nhân trái phép… (3) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật. (4) Chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ, Công an các địa phương tập trung lực lượng, chủ động rà soát, nắm tình hình, lên danh sách, quản lý các đối tượng có biểu hiện mua bán, sử dụng thông tin cá nhân trái phép; làm tốt công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, chủ động phát hiện, đấu tranh, xử lý các đối tượng. Kịp thời điều tra, đề nghị truy tố, xét xử công khai đối với các vụ án đã được phát hiện để răn đe, giáo dục và tuyên truyền cho nhân dân cảnh giác, phòng ngừa. (5) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là lực lượng được giao làm công tác bảo vệ dữ liệu cá nhân, thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân." } ], "id": "23", "is_impossible": false, "question": "Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân" } ] } ], "title": "Giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý, phòng ngừa lộ, lọt thông tin cá nhân" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Trong thời gian qua, tình hình chống người thi hành công vụ có xu hướng gia tăng, với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm; nhiều vụ việc có nhiều người tham gia, sử dụng vũ khí, công cụ nguy hiểm để chống đối, tấn công người thi hành công vụ. Thực trạng này là rất đáng lo ngại, không những đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ, còn thể hiện sự coi thường pháp luật, làm giảm hiệu lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước ở một số lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và lực lượng Công an nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc điều tra, xử lý hành vi chống người thi hành công vụ và bảo vệ người thi hành công vụ. Theo số liệu thống kê cho thấy từ năm 2005 đến hết năm 2009 toàn quốc xảy ra 2.373 vụ chống người thi hành công vụ, năm sau cao hơn năm trước (năm 2006 tăng 9,6%, năm 2007 tăng 19,9%, năm 2008 tăng 14,8%, năm 2009 tăng 11,9%). Riêng năm 2009 đã xảy ra 606 vụ tăng 11,9% so với năm 2008, trong đó chống lại lực lượng CAND thi hành nhiệm vụ tăng 85,5%, nhất là chống lại lực lượng Cảnh sát tiếp tục diễn ra rất nghiêm trọng và ngày càng gia tăng (riêng chống lại lực lượng CSGT xảy ra 97 vụ, làm 1 đồng chí hy sinh, 32 đồng chí bị thương). Trong 2 tháng năm 2010, tội phạm chống người thi hành công vụ tăng 14% so với cùng kỳ năm 2009. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, cơ bản nổi lên một số nguyên nhân sau đây: - Các đối tượng chống người thi hành công vụ hoạt động rất manh động và liều lĩnh; nhận thức về pháp luật còn hạn chế, coi thường pháp luật và các lực lượng chức năng đang thi hành nhiệm vụ; vì các động cơ cá nhân đã kích động, lôi kéo, tụ tập đông người để chống lại lực lượng thi hành công vụ, làm cho tình hình ANTT trở nên phức tạp. - Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân còn nhiều hạn chế; Các chế tài xử lý hành vi chống người thi hành công vụ chưa đủ để răn đe, giáo dục người phạm tội; trong một số vụ án, đối tượng có nhiều lần chống người thi hành công vụ thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật nhưng chế tài xử lý chưa nghiêm khắc. - Một số cán bộ trong khi làm nhiệm vụ đã có những lời nói, cử chỉ, hành động chưa đúng mực, thiếu văn hóa; chưa thực sự tôn trọng nhân dân mà còn tỏ ra hách dịch, cửa quyền, gây ra tâm lý ức chế, bức xúc cho công dân, vì thế dẫn đến việc chống lại những yêu cầu, đề nghị của lực lượng thi hành công vụ… Để phòng ngừa, đấu tranh làm giảm và hạn chế đến mức thấp nhất đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, Bộ Công an đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai, thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây: - Tham mưu, giúp Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2010/NQ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội thay thế cho Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT. Theo đó, tại điểm a, b khoản 3 điều 7 của Nghị định quy định các hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm đến danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; xúi giục người khác không chấp hành các yêu cầu của người thi hành công vụ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. - Nghiên cứu đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 257- Bộ Luật Hình sự theo hướng tăng thêm mức hình phạt đối với đối tượng có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ. - Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội các hành vi chống người thi hành công vụ. Dự thảo Thông tư đang được khẩn trương hoàn thiện để trình lãnh đạo liên ngành ký, triển khai thực hiện. - Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. - Tất cả các vụ việc chống người thi thành công vụ đều phải được điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ vững chắc và nhanh chóng đưa ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật. Kết quả xử lý phải được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến đến tất cả mọi người dân để lên án hành vi vi phạm, đồng thời giao cho chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục người vi phạm không để tái phạm.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 1423, "text": "- Các đối tượng chống người thi hành công vụ hoạt động rất manh động và liều lĩnh; nhận thức về pháp luật còn hạn chế, coi thường pháp luật và các lực lượng chức năng đang thi hành nhiệm vụ; vì các động cơ cá nhân đã kích động, lôi kéo, tụ tập đông người để chống lại lực lượng thi hành công vụ, làm cho tình hình ANTT trở nên phức tạp. - Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân còn nhiều hạn chế; Các chế tài xử lý hành vi chống người thi hành công vụ chưa đủ để răn đe, giáo dục người phạm tội; trong một số vụ án, đối tượng có nhiều lần chống người thi hành công vụ thể hiện tính côn đồ hung hãn, coi thường pháp luật nhưng chế tài xử lý chưa nghiêm khắc. - Một số cán bộ trong khi làm nhiệm vụ đã có những lời nói, cử chỉ, hành động chưa đúng mực, thiếu văn hóa; chưa thực sự tôn trọng nhân dân mà còn tỏ ra hách dịch, cửa quyền, gây ra tâm lý ức chế, bức xúc cho công dân, vì thế dẫn đến việc chống lại những yêu cầu, đề nghị của lực lượng thi hành công vụ… Để phòng ngừa, đấu tranh làm giảm và hạn chế đến mức thấp nhất đối với các hành vi chống người thi hành công vụ, Bộ Công an đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai, thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây: - Tham mưu, giúp Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2010/NQ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội thay thế cho Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực ANTT. Theo đó, tại điểm a, b khoản 3 điều 7 của Nghị định quy định các hành vi cản trở, không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm đến danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; xúi giục người khác không chấp hành các yêu cầu của người thi hành công vụ bị xử phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. - Nghiên cứu đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 257- Bộ Luật Hình sự theo hướng tăng thêm mức hình phạt đối với đối tượng có hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ. - Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xử lý hành vi chống người thi hành công vụ, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội các hành vi chống người thi hành công vụ. Dự thảo Thông tư đang được khẩn trương hoàn thiện để trình lãnh đạo liên ngành ký, triển khai thực hiện. - Tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng. - Tất cả các vụ việc chống người thi thành công vụ đều phải được điều tra, củng cố chứng cứ, hồ sơ vững chắc và nhanh chóng đưa ra xử lý nghiêm khắc trước pháp luật. Kết quả xử lý phải được đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, phổ biến đến tất cả mọi người dân để lên án hành vi vi phạm, đồng thời giao cho chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cơ sở và gia đình quản lý, giáo dục người vi phạm không để tái phạm." } ], "id": "24", "is_impossible": false, "question": "Liên quan vấn đề xử phạt hành vi chống người thi hành công vụ" } ] } ], "title": "Liên quan vấn đề xử phạt hành vi chống người thi hành công vụ" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Theo khoản 2, 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 và Luật số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp thì công dân trong câu hỏi không phải là người được yêu cầu giám định theo Luật, đồng thời các tội về ma túy là các tội hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi gặp các trường hợp nêu trên, đề nghị công dân trình báo thông tin với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn để được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 0, "text": "Theo khoản 2, 3 Điều 2 Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 ngày 20/6/2012 và Luật số 56/2020/QH14 ngày 10/6/2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư pháp thì công dân trong câu hỏi không phải là người được yêu cầu giám định theo Luật, đồng thời các tội về ma túy là các tội hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, khi gặp các trường hợp nêu trên, đề nghị công dân trình báo thông tin với cơ quan Công an xã, phường, thị trấn để được hướng dẫn xử lý theo đúng quy định pháp luật." } ], "id": "25", "is_impossible": false, "question": "Có thể giám định đồ vật nghi chứa ma túy hay không?" } ] } ], "title": "Có thể giám định đồ vật nghi chứa ma túy hay không?" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "1. Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử Thuốc lá điện tử (TLĐT) không đáp ứng quy định về khái niệm thuốc lá và nguyên liệu của thuốc lá theo quy định của pháp luật hiện hành, không thuộc điều chỉnh của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá. Hiện, TLĐT không thuộc danh mục mặt hàng cấm sản xuất, kinh doanh hay sản xuất, kinh doanh có điều kiện. Pháp luật cũng chưa quy định độ tuổi được mua bán, sử dụng TLĐT. Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn trong và ngoài nước, tất cả các loại thuốc lá đều độc hại, bao gồm cả TLĐT. Không có bằng chứng nào chứng minh TLĐT ít gây hại hơn thuốc lá thông thường. TLĐT thường có nicotine gây nghiện mạnh cho người sử dụng và việc hít các hương liệu trong dung dịch TLĐT gây ra các tác động tiêu cực đến sức khỏe con người, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thanh thiếu niên. Các sản phẩm thuốc lá mới có nguy cơ cao tiềm ẩn và phát sinh tệ nạn xã hội, nhất là sử dụng ma túy và các chất gây nghiện (theo một số nghiên cứu, nguy cơ sử dụng ma túy gấp 3,5 lần so với không hút TLĐT). Thế giới và Việt Nam đều đã ghi nhận ma túy được pha trộn vào trong tinh dầu TLĐT (chủ yếu là cần sa tổng hợp) và các trường hợp ngộ độc do sử dụng TLĐT có chứa chất ma túy. Trong những năm gần đây, ở Việt Nam, tình trạng mua bán, sử dụng thuốc lá điện tử có pha trộn, phun tẩm ma túy (cần sa tổng hợp) đang diễn biến phức tạp, nhất là trên không gian mạng. Đối tượng sử dụng chủ yếu là giới trẻ. Số vụ, số đối tượng, tang vật bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ tăng mạnh về số lượng, phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Các đối tượng thường xuyên tạo ra các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy với nhiều mẫu mã, tên gọi, chất ma túy khác nhau, đi liền với các quảng cáo gây hiểu lầm (có tác dụng thần kỳ, tạo khoái cảm, tăng lực, không có chất cấm, không có tác hại...). Sử dụng các chất ma túy mới, chưa nằm trong Danh mục để tạo các sản phẩm TLĐT có chứa chất ma túy nhằm trốn tránh sự xử lý của pháp luật. 2. Định hướng chính sách quản lý Nhà nước về thuốc lá điện tử Do tính độc hại của TLĐT, ngày 13/6/2019, Bộ Công thương có Công văn số 534/XNK-TMQT gửi Tổng cục Hải quan về việc \"mặt hàng thuốc lá điện tử, thuốc lá điếu loại không cháy, sử dụng cho tẩu IQOS và tương tự chưa được nhập vào Việt Nam\". Theo thống kê chính thức của Tổ chức Y tế thế giới, có 34 quốc gia và vùng lãnh thổ áp dụng chính sách cấm hoàn toàn (sản xuất, nhập khẩu, mua bán) các sản phẩm TLĐT. Riêng khu vực Asean có 05 nước: Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Brunei cấm hoàn toàn. Ngoài ra, một số nước không cấm hoàn toàn mà cấm theo khu vực hoặc theo sản phẩm. Trung Quốc cấm hoàn toàn các sản phẩm có hương liệu (mà TLĐT thì hầu hết có hương liệu). Ở nước ta, hiện các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Quốc hội đang tích cực xây dựng và đề xuất các cơ chế quản lý chặt chẽ đối với thuốc lá mới (trong đó có TLĐT) trong các kỳ họp Quốc hội tới.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 2463, "text": "Lào, Campuchia, Thái Lan, Singapore, Brunei cấm hoàn toàn. Ngoài ra, một số nước không cấm hoàn toàn mà cấm theo khu vực hoặc theo sản phẩm. Trung Quốc cấm hoàn toàn các sản phẩm có hương liệu (mà TLĐT thì hầu hết có hương liệu). Ở nước ta, hiện các cơ quan chuyên môn của Chính phủ và Quốc hội đang tích cực xây dựng và đề xuất các cơ chế quản lý chặt chẽ đối với thuốc lá mới (trong đó có TLĐT) trong các kỳ họp Quốc hội tới." } ], "id": "26", "is_impossible": false, "question": "Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử" } ] } ], "title": "Quy định của pháp luật và khuyến cáo về tác hại của thuốc lá điện tử" }
v2.0
{ "paragraphs": [ { "context": "Căn cứ các quy định của pháp luật thì hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản đều là những hành vi vi phạm pháp luật cần phải bị xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, các hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay bị xử lý vi phạm hành chính còn tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi (vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm). Việc đánh giá mức độ nguy hiểm của tội phạm và vi phạm hành chính căn cứ những tình tiết cụ thể để đối chiếu với quy định của pháp luật: mức độ gây thiệt hại cho xã hội; mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện tội phạm... Về căn cứ pháp lý để xử lý đối với từng hành vi nêu trên được quy định như sau: - Hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại các Điều 178, 318 và Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Nếu hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các Điều 5, 15 và 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình.", "qas": [ { "answers": [ { "answer_start": 558, "text": "mức độ gây thiệt hại cho xã hội; mức độ tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần; công cụ, phương tiện, thủ đoạn thực hiện tội phạm... Về căn cứ pháp lý để xử lý đối với từng hành vi nêu trên được quy định như sau: - Hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi đủ yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại các Điều 178, 318 và Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). - Nếu hành vi chống người thi hành công vụ, gây rối và hủy hoại tài sản chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính được quy định tại các Điều 5, 15 và 20 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình." } ], "id": "27", "is_impossible": false, "question": "Hỏi về hành vi chống người thi hành công vụ và gây rối, hủy hoại tài sản công quyền" } ] } ], "title": "Hỏi về hành vi chống người thi hành công vụ và gây rối, hủy hoại tài sản công quyền" }
End of preview. Expand in Data Studio

HVU_QA

HVU_QA is an open-source Vietnamese Question–Context–Answer (QCA) corpus and supporting tools for building FAQ-style question generation systems in low-resource languages. The dataset was created using a fully automated pipeline that combines web crawling from trustworthy sources, semantic tag-based extraction, and AI-assisted filtering to ensure high factual accuracy.

📋 Dataset Description

  • Language: Vietnamese
  • Format: SQuAD-style JSON
  • Total samples: 39,000 QCA triples (full corpus released)
  • Domains covered: Social services, labor law, administrative processes, and other public service topics.
  • Structure of each sample:
    • Question: Generated or extracted question
    • Context: Supporting text passage from which the answer is derived
    • Answer: Answer span within the context

⚙️ Creation Pipeline

The dataset was built using a 4-stage automated process:

  1. Selecting relevant QA websites from trusted sources.
  2. Automated data crawling to collect raw QA webpages.
  3. Extraction via semantic tags to obtain clean Question–Context–Answer triples.
  4. AI-assisted filtering to remove noisy or factually inconsistent samples.

📊 Quality Evaluation

A fine-tuned vit5-base model trained on HVU_QA achieved:

Metric Score
BLEU 89.1
Semantic similarity 91.5% (cos ≥ 0.8)
Human grammar score 4.58 / 5
Human usefulness score 4.29 / 5

These results confirm that HVU_QA is a high-quality resource for developing robust FAQ-style question generation models.

📁 Dataset Structure

.HVU_QA
├── t5-viet-qg-finetuned/
├── fine_tune_qg.py
├── generate_question.py
├── 39k_train.json
└── README.md

📁 Vietnamese Question Generation Tool

🛠️ Requirements

  • Python 3.8+
  • PyTorch >= 1.9
  • Transformers >= 4.30
  • scikit-learn

📦 Install Required Libraries

pip install datasets transformers sentencepiece safetensors accelerate evaluate sacrebleu rouge-score nltk scikit-learn

(Install PyTorch separately from pytorch.org if not installed yet.)

📥 Load Dataset from Hugging Face Hub

from datasets import load_dataset

ds = load_dataset("DANGDOCAO/GeneratingQuestions", split="train")
print(ds[0])

📚 Usage

  • Train and evaluate a question generation model.
  • Develop Vietnamese NLP tools.
  • Conduct linguistic research.

🔹 Fine-tuning

python fine_tune_qg.py

This will:

  1. Load the dataset from 39k_train.json.
  2. Fine-tune VietAI/vit5-base.
  3. Save the trained model into t5-viet-qg-finetuned/.

(Or download the pre-trained model: t5-viet-qg-finetuned.)

🔹 Generating Questions

python generate_question.py

Example:

Input passage:
Cà phê sữa đá là một loại đồ uống nổi tiếng ở Việt Nam
(Iced milk coffee is a famous drink in Vietnam)

Number of questions: 5

Output:

1. Loại cà phê nào nổi tiếng ở Việt Nam?  
   (What type of coffee is famous in Vietnam?)  
2. Tại sao cà phê sữa đá lại phổ biến?  
   (Why is iced milk coffee popular?)  
3. Cà phê sữa đá bao gồm những nguyên liệu gì?  
   (What ingredients are included in iced milk coffee?)  
4. Cà phê sữa đá có nguồn gốc từ đâu?  
   (Where does iced milk coffee originate from?)  
5. Cà phê sữa đá Việt Nam được pha chế như thế nào?  
   (How is Vietnamese iced milk coffee prepared?)  

You can adjust in generate_question.py:

  • top_k, top_p, temperature, no_repeat_ngram_size, repetition_penalty

📌 Citation

If you use HVU_QA in your research, please cite:

@inproceedings{nguyen2025method,
  author    = {Ha Nguyen and Phuc Le and Dang Do and Cuong Nguyen and Chung Mai},
  title     = {A Method for Building QA Corpora for Low-Resource Languages},
  booktitle = {Proceedings of the 2025 International Symposium on Information and Communication Technology (SOICT 2025)},
  year      = {2025},
  publisher = {Springer},
  series    = {Communications in Computer and Information Science (CCIS)},
  address   = {Nha Trang, Vietnam},
  note      = {To appear}
}

❤️ Support / Funding

If you find HVU_QA useful, please consider supporting our work.
Your contributions help us maintain the dataset, improve quality, and release new versions (cleaning, expansion, benchmarks, and tools).

🇻🇳 Donate via VietQR (scan to support)

This VietQR / NAPAS 247 code can be scanned by Vietnamese banking apps and some international payment apps that support QR bank transfers.

VietQR Support

Bank: VietinBank (Vietnam)
Account name: NGUYEN TIEN HA
Account number: 103004492490
Branch: VietinBank CN PHU THO - HOI SO

🌍 International Support (Quick card payment)

If you are outside Vietnam, you can support this project via Buy Me a Coffee
(no PayPal account needed — pay directly with a credit/debit card):

🌍 International Support (PayPal)

If you prefer PayPal, you can also support us here:

✨ Other ways to support

  • ⭐ Star this repository / dataset on Hugging Face
  • 📌 Cite our paper if you use it in your research
  • 🐛 Open issues / pull requests to improve the dataset and tools
Downloads last month
1,334